LUẬT DU LỊCH: HƯỚNG DẪN VIÊN DU LỊCH P2

Điều 62. Cấp đổi thẻ hướng dẫn viên du lịch

  1. Hướng dẫn viên du lịch quốc tế, hướng dẫn viên du lịch nội địa làm thủ tục đề nghị cấp
    đổi thẻ hướng dẫn viên du lịch khi thẻ hết hạn sử dụng.
  2. Hồ sơ đề nghị cấp đổi thẻ hướng dẫn viên du lịch bao gồm:
  3. Đơn đề nghị cấp đổi thẻ hướng dẫn viên du lịch theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể
    thao và Du lịch quy định;
  4. Giấy tờ quy định tại các điểm b, d và đ khoản 1 Điều 60 của Luật này;
  5. Bản sao có chứng thực giấy chứng nhận đã qua khóa cập nhật kiến thức cho hướng dẫn
    viên du lịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp;
  6. Thẻ hướng dẫn viên du lịch đã được cấp.
  7. Trình tự, thủ tục cấp đổi thẻ hướng dẫn viên du lịch được quy định như sau:
  8. Người đề nghị cấp đổi thẻ hướng dẫn viên du lịch nộp 01 bộ hồ sơ đến cơ quan nhà nước
    có thẩm quyền cấp thẻ;
  9. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
    cấp thẻ có trách nhiệm cấp đổi thẻ hướng dẫn viên du lịch cho người đề nghị; trường hợp từ
    chối, phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
  10. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về khóa cập nhật kiến thức, giấy
    chứng nhận khóa cập nhật kiến thức cho hướng dẫn viên du lịch quốc tế, hướng dẫn viên du
    lịch nội địa.

Kết quả hình ảnh cho hướng dẫn viên du lịch

Điều 63. Cấp lại thẻ hướng dẫn viên du lịch

  1. Thẻ hướng dẫn viên du lịch được cấp lại trong trường hợp bị mất, bị hư hỏng hoặc thay đổi
    thông tin trên thẻ. Thời hạn của thẻ hướng dẫn viên du lịch được cấp lại bằng thời hạn còn lại
    của thẻ đã được cấp.
  2. Hồ sơ đề nghị cấp lại thẻ hướng dẫn viên du lịch bao gồm:
  3. Đơn đề nghị cấp lại thẻ hướng dẫn viên du lịch theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao
    và Du lịch quy định;
  4. 02 ảnh chân dung màu cỡ 3cm x 4cm;
  5. Bản sao có chứng thực giấy tờ liên quan đến nội dung thay đổi trong trường hợp cấp lại thẻ do
    thay đổi thông tin trên thẻ hướng dẫn viên du lịch.
  6. Trình tự, thủ tục cấp lại thẻ hướng dẫn viên du lịch được quy định như sau:
  7. Người đề nghị cấp lại thẻ hướng dẫn viên du lịch nộp 01 bộ hồ sơ đến cơ quan nhà nước có
    thẩm quyền cấp thẻ;
  8. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
    cấp thẻ cấp lại thẻ hướng dẫn viên du lịch cho người đề nghị; trường hợp từ chối phải trả lời
    bằng văn bản và nêu rõ lý do.

>>>>>Xem thêm: Hồ sơ đăng ký nhãn hiệu hàng hóa

Điều 64. Thu hồi thẻ hướng dẫn viên du lịch

  1. Thẻ hướng dẫn viên du lịch bị thu hồi trong trường hợp hướng dẫn viên du lịch có một trong
    các hành vi sau đây:
  2. Làm phương hại đến chủ quyền, lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh;
  3. Cho cá nhân khác sử dụng thẻ hướng dẫn viên du lịch để hành nghề;
  4. Không bảo đảm điều kiện hành nghề, điều kiện cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch theo quy định
    của Luật này;
  5. Giả mạo hồ sơ cấp, cấp đổi, cấp lại thẻ hướng dẫn viên du lịch.
  6. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch quyết định thu hồi thẻ hướng
    dẫn viên du lịch và công bố công khai trên trang thông tin điện tử quản lý hướng dẫn viên du lịch
    của Tổng cục Du lịch và cơ quan thu hồi thẻ.
  7. Hướng dẫn viên du lịch đã bị thu hồi thẻ chỉ được đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp thẻ
    hướng dẫn viên du lịch sau 12 tháng kể từ ngày bị thu hồi thẻ.

Điều 65. Quyền và nghĩa vụ của hướng dẫn viên du lịch

  1. Hướng dẫn viên du lịch có quyền sau đây:
  2. Tham gia tổ chức xã hội – nghề nghiệp về hướng dẫn du lịch;
  3. Nhận tiền lương và khoản thù lao khác theo hợp đồng;
  4. Tham gia các khóa bồi dưỡng kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề hướng
    dẫn du lịch;
  5. Trong trường hợp khẩn cấp hoặc bất khả kháng, được quyền thay đổi chương trình du lịch,
    điều chỉnh tiêu chuẩn, dịch vụ của khách du lịch.
  6. Hướng dẫn viên du lịch có nghĩa vụ sau đây:
  7. Hướng dẫn khách du lịch theo nhiệm vụ được giao hoặc theo hợp đồng hướng dẫn;
  8. Tuân thủ, hướng dẫn khách du lịch tuân thủ pháp luật Việt Nam, pháp luật nơi đến du lịch,
    nội quy nơi đến tham quan; tôn trọng phong tục, tập quán của địa phương;
  9. Thông tin cho khách du lịch về chương trình du lịch, dịch vụ và các quyền, lợi ích hợp pháp
    của khách du lịch;
  10. Hướng dẫn khách du lịch theo đúng chương trình du lịch, có thái độ văn minh, tận tình và
    chu đáo với khách du lịch; báo cáo người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành quyết định
    thay đổi chương trình du lịch trong trường hợp khách du lịch có yêu cầu;

>>>>>Xem thêm: Thương hiệu đá quý Vlaro – Chất lượng tạo nên đẳng cấp

đ) Có trách nhiệm hỗ trợ trong việc bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản của khách du lịch;

  1. Tham gia khóa cập nhật kiến thức theo quy định tại khoản 4 Điều 62 của Luật này;
  2. Đeo thẻ hướng dẫn viên du lịch trong khi hành nghề hướng dẫn du lịch;
  3. Hướng dẫn viên du lịch quốc tế và hướng dẫn viên du lịch nội địa phải mang theo giấy tờ phân
    công nhiệm vụ của doanh nghiệp tổ chức chương trình du lịch và chương trình du lịch bằng tiếng
    Việt trong khi hành nghề. Trường hợp hướng dẫn khách du lịch quốc tế thì hướng dẫn viên du
    lịch phải mang theo chương trình du lịch bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài.

Điều 66. Trách nhiệm quản lý hướng dẫn viên du lịch

  1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra hoạt động cấp thẻ hướng
    dẫn viên du lịch, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ hướng dẫn du lịch và hoạt động hướng
    dẫn du lịch trên phạm vi toàn quốc.
  2. Cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra hoạt động đào tạo,
    bồi dưỡng nghiệp vụ hướng dẫn du lịch và hoạt động hướng dẫn du lịch trên địa bàn.
  3. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hướng dẫn du lịch
    có trách nhiệm sau đây:
  4. a) Kiểm tra, giám sát hoạt động của hướng dẫn viên du lịch trong việc tuân thủ pháp luật và
    hợp đồng đã ký với doanh nghiệp;
  5. b) Bồi dưỡng kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề hướng dẫn du lịch.

>>>>>Xem thêm: So sánh ẩm thực Trung Quốc và Việt Nam, những tương đồng và khác biệt